Coxsackievirus và bệnh tay chân miệng 28/01/2015 10:19

PGS.TS. Trần Đình Bình
Bộ môn Vi sinh vật Y học, Trường Đại học Y Dược Huế
         
Bệnh tay chân miệng (viết tắt: TCM; tiếng Anh: Hand - Foot - Mouth Disease - HFMD) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây nên, bệnh thường gặp ở trẻ em (trên 90%). Bệnh có thể bị rải rác hoặc bùng phát thành các vụ dịch nhỏ vào mùa hè ở những nơi đông dân cư, điều kiện vệ sinh kém. Bệnh thường được đặc trưng bởi sốt, đau họng và nổi ban có bọng nước ở tay, chân, miệng, và thường tiến triển đến loét. Các tổn thương này có thể thấy ở lưỡi, nướu và bên trong má.. Rất nhiều bệnh nhân được chẩn đoán nhầm với các bệnh da khác như chốc, thuỷ đậu, dị ứng,... dẫn đến điều trị sai lầm và làm bệnh lan tràn.
 
1. Tác nhân gây bệnh
1.1. Khái niệm:
         
Bệnh tay chân miệng do một nhóm virus thuộc nhóm Enterovirus gây nên. Enterovirusbao gồm 4 nhóm: poliovirus, Coxsackie A virus (CA), Coxsackie B virus (CB) và Echovirus. Các serotyp thuộc loài A gồm: EV68, EV71, EV76, EV89, EV90, EV91 và EV92. Trong khi các serotyp EV khác thì thuộc dưới loài Enterovirus B hoặc C. Týp EV71 là một trong những tác nhân gây nên bệnh TCM và đôi khi chúng còn có khả năng gây nên bệnh ở hệ thần kinh trung ương. Khả năng gây bệnh của týp EV71 đã được minh chứng là lần đầu tiên (1969) phân lập được chúng ở tổ chức thần kinh trung ương của một số trường hợp tại California (Mỹ).
 
Loài Coxsackievirus thuộc họ Picornaviridae gồm 29 typ. Chúng khác biệt với cácEnterovirus khác ở khả năng gây bệnh ở chuột ổ , các enterovirus khác thì hiếm hoặc không. Chúng chia thành 2 nhóm: nhóm A và nhóm B có khả năng gây bệnh ở chuột khác nhau. Chúng gây nhiều chứng bệnh khác nhau: Coxsackie A gây viêm họng, phát ban ngòai da, bệnh tay chân miệng, gây viêm kết mạc chảy máu, viêm màng não vô khuẩn...,Coxsackie B gây viêm cơ tim ở trẻ sơ sinh, viêm đường hô hấp trên, viêm màng ngoài tim, viêm màng trong tim...
         
Người ta cũng đã cho biết rằng týp virus EV 71 đã xuất hiện ở Đài Loan vào năm 1968 cũng như đã từng xuất hiện ở các nước Đông Nam Á như: Philipines, Indonesia, Singapore. Tuy rằng đây không phải là một týp enterovirus mới nhưng đặc tính của týp virus này có độc tính rất mạnh và có khả năng làm tổn thương tổ chức thần kinh trung ương gây ra những bệnh cảnh lâm sàng nặng và hậu quả để lại xấu, hơn nữa nước ta lại nằm trong khu vực này cho nên cần cảnh giác và thận trọng khi có bệnh TCM xuất hiện.
 
1.2. Hình thái của virus.
- Hình cầu, đường kính 27-30 nm.
- Lớp capsid gồm 60 tiểu đơn vị, không có lớp bao ngoài.
- Bên trong chứa RNA, là thành phần di truyền, nhân lên và gây nhiễm của virus.
 
Virus nhân lên ở bào tương của tế bào bị nhiễm.
 
Một vài hình ảnh về hình thể và cấu trúc của virus Coxsackie gây bệnh TCM
 
1.3. Khả năng tồn tại trong môi trường bên ngoài.
- Virus bị đào thải ra ngoại cảnh từ phân, dịch hắt hơi, sổ mũi.
- Virus bị bất hoạt bởi nhiệt 560C trong vòng 30 phút, tia cực tím, tia gamma.
- Virus chịu được pH với phổ rộng từ 3-9.
- Bị bất hoạt bởi: 2% Sodium hyproclorite (nước Javel), Chlorine tự do. Không hoặc ít bị bất hoạt bởi các chất hòa tan lipid như: Cồn, Chloroform, Phenol, Ether.
- Ở nhiệt độ lạnh 40C, virus sống được vài ba tuần.
 
2. Khả năng gây bệnh của virus
2.1. Đặc điểm dịch tễ học.
 
2.1.1. Phân bố theo thời gian:
Bệnh có quanh năm, tăng mạnh ở 2 đợt: tháng 3 - 5 và tháng 9 - 12.
 
2.1.2. Phân bố theo địa dư:
- Bệnh tay-chân-miệng xuất hiện khắp nơi trên thế giới. Trong thời gian gần đây, dịch tay-chân-miệng chủ yếu do Enterovirus 71 gây ra ở các nước Đông Nam Á. Vụ dịch tại Đài Loan năm 1998 được coi là vụ dịch lớn với hơn 100.000 người mắc, hơn 400 trẻ phải nhập viện với các biến chứng ở hệ thần kinh trung ương, 78 trẻ tử vong.
 
 
- Tại Việt Nam, bệnh tay-chân-miệng gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương trong cả nước; tại các tỉnh phía Nam, số mắc tập trung từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12.
 
2.1.3. Phân bố theo tuổi:
Bệnh có ở trẻ em dưới 10 tuổi, nhiều hơn ở dưới 5 tuổi, tập trung ở dưới 3 tuổi, đỉnh cao là 1-2 tuổi.
 
2.1.4. Nguồn truyền nhiễm
 Nguồn bệnh là người bệnh, người lành mang virus trong các dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng hoặc phân của bệnh nhân. Lây nhiễm ngay từ thời gian ủ bệnh (từ 3 - 7 ngày) trước khi phát bệnh và thời kỳ lây truyền kéo dài cho đến khi hết loét miệng và các phỏng nước, dễ lây nhất là trong tuần đầu của bệnh.
 
2.1.5. Phương thức lây truyền:
Bệnh TCM lây truyền bằng đường “phân-miệng” và tiếp xúc trực tiếp, nhưng chủ yếu lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng hoặc tiếp xúc với chất tiết và bài tiết của bệnh nhân trên dụng cụ sinh hoạt, đồ chơi, bàn ghế, nền nhà. Đặc biệt khi bệnh nhân mắc bệnh đường hô hấp, việc hắt hơi, ho, nói chuyện sẽ tạo điều kiện cho virus lây lan trực tiếp từ người sang người.
 
2.1.6. Tính cảm nhiễm và miễn dịch:
 
Bệnh TCM có tính cảm thụ cao, mọi người đều có cảm nhiễm với virus gây bệnh tay - chân - miệng, không phải tất cả mọi người nhiễm virus đều có biểu hiện bệnh mà phần lớn bệnh ở hình thái thể ẩn, không biểu hiện các triệu chứng, đây là nguồn lây nhiễm nguy hiểm; bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 15 tuổi, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi có tỷ lệ mắc cao hơn.
 
Mọi lứa tuổi có thể bị nhiễm Enterovirus nhưng không phải tất cả đều bị bệnh mà bệnh chỉ xẩy ra ở những cơ thể không có miễn dịch chống lại Enterovirus. Người ta thống kê cho thấy rằng trẻ nhũ nhi, trẻ em và ngay cả thiếu niên, người trưởng thành nếu chưa có miễn dịch đều có thể mắc bệnh TCM.
 
2.2. Gây bệnh ở người
2.2.1. Sự lan truyền của virus trong cơ thể
Enterovirus xâm nhập vào cơ thể, chúng thường khu trú ở niêm mạc má hoặc ở niêm mạc ruột vùng hồi tràng. Sau khoảng thời gian 24 giờ, virus sẽ đi đến các hạch bạch huyết xung quanh, từ đây chúng xâm nhập vào máu gây nhiễm trùng huyết trong một khoảng thời gian ngắn.
Từ nhiễm trùng huyết, virus đến niêm mạc miệng và da. Thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài khoảng từ 3 – 7 ngày.
 
2.2.2. Biểu hiện của bệnh
Bệnh khởi phát là sốt sau đó xuất hiện các bọng nước ở niêm mạc miệng (ở nướu răng, lưỡi, bên trong má) và xuất hiện ban đỏ ở bàn tay, bàn chân. Các ban đỏ này có thể hình thành các bọng nước. Đặc điểm của các ban của bệnh TCM là thường không ngứa và không xuất hiện ở gan bàn tay hoặc gan bàn chân. Như vậy, các ban và bọng nước chủ yếu xuất hiện ở tay, chân và miệng vì vậy được gọi là bệnh TCM. Ngoài ra ở một số ít trường hợp có thể xuất hiện ở một số vị trí khác trên cơ thể như vùng mông.
 
Các bọng nước ở miệng thường vỡ ra và gây loét làm cho trẻ đau đớn, khóc nhiều, ăn kém hoặc sợ không dám ăn cho nên trẻ gầy sút nhanh. Nếu các bọng nước ở tay, chân khi vỡ ra nếu không giữ vệ sinh sạch sẽ thì rất có thể bị bội nhiễm vi khuẩn gây mưng mủ và làm cho bệnh phức tạp thêm. Hầu hết các trường hợp bị bệnh TCM sẽ qua khỏi nhưng có một số nếu căn nguyên gây nên bệnh là EV71 thì sẽ có thể bệnh diễn biến phức tạp hơn nhất là khi virus gây tổn thương hệ thần kinh trung ương sẽ thể hiện một bệnh viêm màng não điển hình với biểu hiện là sốt cao, nhức đầu, cứng cổ, buồn nôn, nôn vọt.
 
2.2.3. Tóm tắt các biểu hiện của bệnh
• Loét miệng: là các bọng nước có đường kính 2-3 mm Thường khó thấy các bóng nước trên niêm mạc miệng vì nó vở rất nhanh tạo thành những vết loét, trẻ rất đau khi ăn, tăng tiết nước bọt
• Bọng nước: từ 2-10 mm, màu xám, hình bầu dục.
• Bọng nước vùng mông và gối thường xuất hiện trên nền hồng ban.
• Bọng nước lòng bàn tay và lòng bàn chân có thể lồi lên trên da sờ có cảm giác cộn hay ẩn dưới da, thường ấn không đau.
• Bệnh có thể biểu hiện không điển hình như: bóng nước rất ít xen kẻ với những hồng ban, một số trường hợp chỉ biểu hiện hồng ban và không có biểu hiện bóng nước hay chỉ có biểu hiện loét miệng đơn thuần.
Tiên lượng đối với bệnh TCM tùy thuộc vào căn nguyên gây bệnh là do Enterovirus A16 hay do EV71. Nếu do Enterovirus A16 thì thường là bệnh nhẹ và có thể tự khỏi sau từ 7 - 10 ngày, nhưng do EV71 thì có thể có biến chứng nguy hiểm như viêm phổi, viêm cơ tim cấp hoặc viêm màng não, thậm chí gây tử vong.
 
2.2.4. Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh tương tự:
Triệu chứng
Tay chân miệng
Thủy đậu
Zona
Herpes simplex
Tuổi  
< 10 tuổi    
5-11 tuổi, người lớn    
Tất cả    
Tất cả    
Vị trí ban    
Lòng bàn tay,
khuỷu tay, đầu gối, mông, bụng, lòng
bàn chân, loét
miệng    
Rải rác toàn
thân, lan từ  đầu, mặt,  xuống thân và tay chân     
Chỉ ở 1 bên cơ thể    
Từng chùm mụn
nước nhỏ ở
quanh miệng    
Dạng ban    
Đỏ + Mụn nước, sần, hồng ban, màu
xám, hình bầu dục, khi lành không
thành sẹo    
Mụn nước cũ
xen lẫn mới,
lõm ở giữa khi mới mọc, trong lẫn đục (mủ) do bội nhiễm vi khuẩn    
Chùm mụn
nước to nhỏ
không đều +
Hạch ở cổ, nách, bẹn cùng bên    
Mụn nước sẽ vỡ,
chảy dịch, đóng
mày và lành sẹo    
Cảm giác    
Không đau,
không ngứa    
Ngứa, đau nhức rất khó chịu.    
Ngứa, đau nhức rất khó chịu .    
Ngứa, rát    
 
2.2.5. Biến chứng:
• Các biến chứng thường gặp là: viêm màng não, viêm não màng não, liệt mềm cấp, viêm cơ tim, phù phổi cấp do thần kinh
• Các biến chứng có thể phối hợp với nhau như: viêm não màng não, phù phổi và viêm cơ tim trên cùng 1 bệnh nhân.
• Các biến chứng này thường gây tử vong cao và diễn tiến rất nhanh có thể trong 24 giờ.
• Theo các nghiên cứu tại Đài loan cho thấy biến chứng nặng thường do Enterovirus 71.
 
3. Chẩn đoán phòng thí nghiệm
 
3.1. Bệnh phẩm
- Phân, dịch ngoáy họng, dịch nốt phồng, dịch nốt loét, dịch não tủy là các bệnh phẩm để phân lập vi rút và thực hiện các xét nghiệm sinh học phân tử.
- Máu để làm phản ứng huyết thanh xác định hiệu giá kháng thể đặc hiệu.
 
3.2. Phương pháp chẩn đoán:
- Phân lập virus: Cấy bệnh phẩm vào tế bào thận khỉ hoặc tế bào phôi người. Vi rút phá hủy tế bào.
- Xét nghiệm RT- PCR phát hiện RNA của virus
- Phản ứng huyết thanh xác định hiệu giá kháng thể đặc hiệu bằng phản ứng trung hoà, miễn dịch huỳnh quang.
 
4. Dự phòng và điều trị
4.1. Các biện pháp dự phòng:
4.1.1. Phòng bệnh chung
Là một bệnh lây trực tiếp, thường xảy ra tại cộng đồng, tập thể, vì thế các biện pháp dự phòng chung rất quan trọng.
- Tuyên truyền giáo dục rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng, nhất là ở nhà trẻ mẫu giáo về tầm quan trọng của giữ gìn vệ sinh, như vệ sinh răng miệng, rửa tay trước, sau khi nấu ăn, chuẩn bị thức ăn, sau khi đi vệ sinh, đặc biệt là mỗi lần thay tã cho trẻ, ăn chín, uống sôi.
- Trẻ mắc bệnh không đến lớp đến khi hết loét miệng và các phỏng nước. Khi có từ 2 trẻ trở lên trong một lớp bị mắc bệnh trong vòng 7 ngày, thì cho lớp nghỉ học 10 ngày kể từ ngày khởi bệnh của ca cuối cùng.
- Khi trẻ đến lớp cú sốt, loét miệng, phỏng nước phải thông báo cho gia đình và cơ quan y tế .
- Làm sạch dụng cụ học tập, đồ chơi và các dụng cụ khác bằng chloramin B 2%. Dụng cụ ăn uống như bát, đũa, cốc; ngâm, tráng nước sôi trước khi ăn, sử dụng.
- Các biện pháp chuyên môn chăm sóc trẻ bệnh tại gia đình bệnh nhi:
+ Bệnh nhi phải được cách ly, đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người khác.
+ Phân và các chất thải của bệnh nhi phải được khử khuẩn bằng chloramin B; quần áo, chăn màn dụng cụ của bệnh nhi phải được khử khuẩn bằng đun sôi, ngâm dung dịch chloramin B 2%;
+ Người chăm sóc bệnh nhi: thực hành vệ sinh cá nhân, đặc biệt rửa tay ngay khi thay tã cho trẻ. Hạn chế hôn, sử dụng chung các dụng cụ với trẻ bệnh.
+ Khi trẻ còn triệu chứng bệnh tay - chân - miệng, không cho phép tham gia các hoạt động, gặp gỡ đông trẻ em khác như đến lớp, đi bơi,...
+ Theo dõi các biểu hiện sốt, loét miệng, phỏng nước đối với các thành viên trong gia đình, đặc biệt là trẻ em để thông báo cho cơ quan y tế.
- Các biện pháp chuyên môn phòng ngừa lây nhiễm bệnh tại các cơ sở điều trị: Cán bộ y tế phải áp dụng biện pháp phòng ngừa lây nhiễm.
+ Rửa tay ngay bằng dung dịch sát khuẩn khi có tiếp xúc với chất tiết và bài tiết của bệnh nhi dù có hay không có mang găng tay.
+ Mang trang phục phòng hộ cá nhân khi làm những thủ thuật trên bệnh nhi có nguy cơ tạo giọt bắn tới niêm mạc.
4.1.2. Phòng bệnh đặc hiệu
Chưa có vắc xin phòng bệnh.
 
4.2. Điều trị bệnh tay chân miệng:
Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, việc điều trị bệnh chủ yếu là điều trị triệu chứng.
• Đưa trẻ đến khám bệnh tại các cơ sở y tế. Nếu trẻ được chỉ định chăm sóc tại nhà, cần thực hiện những điều sau đây :
   + Vệ sinh răng miệng và thân thể, tránh làm nhiễm trùng các bóng nước
   + Giảm đau, hạ sốt bằng cách lau mình bằng nước ấm, dùng thuốc hạ sốt Paracetamol.
   + Nghỉ ngơi hợp lý, hạn chế vận động, tăng cường dinh dưỡng, cho ăn thức ăn lỏng, mềm, uống nhiều nước nhất là nước hoa quả.
   + Không cạy vỡ các bóng nước để tránh nhiễm trùng.
   + Theo dõi sát để phát hiện các dấu hiệu: dễ giật mình, hoảng hốt, run chi, gồng tự hết, đi loạng choạng, chới với, co giật, da nổi bông, nôn ói nhiều, sốt cao. Khi có các biểu hiện trên cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế. Hướng dẫn Chẩn đoán, điều trị bệnh tay-chân-miệng (Ban hành kèm theo Quyết định số: 1732 /QĐ-BYT ngày 16 tháng 5 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
 
2. Cục Quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế: Báo cáo dịch bệnh ngày 26/7/2011.
 
3. Bộ môn Vi sinh. Giáo trình Vi sinh vật y học. Huế 2010.
 
4. Li JH, Fang XN. Progress in research on enterovirus type 71. Bingdu Xuebao. 2011 May; 27(3): 308-314.
 
5. Liu WL, Yang GL, Wei Q, Zhang MX, Chen XC, Liu YX, Gao Y, Zhou BP. The genetical evolution of the full length genes of 5 EV 71 strains from 5 Shenzhen patients with hand-food-mouth disease associated with EV71 infection. Zhonghua Shiyan he Linchuang Bingduxue Zazhi. 2011 Feb; 25(1): 53-56.
 
6. Yang F, Du J, Hu Y, Wang X, Xue Y, Dong J, Sun L, Li Z, Li Y, Sun S, Jin Q. Enterovirus Coinfection During an Outbreak of Hand, Foot, and Mouth Disease in Shandong, China. Clin Infect Dis. 2011 Jul 22.
Tin nổi bật
Thông tin khác
Thông tin khác
Quản lý văn bản và điều hànhĐào tạo trực tuyến E-LearningTrung tâm thông tin Thư việnPhòng Đào tạo Đại họcBộ môn MắtBộ môn NhiBộ môn NộiBộ môn NgoạiTrung tâm Nội tiết SS & Vô sinhBanner Nestle